Top 10

Top 5 Dân tộc ít người nhất nước ta

Trên đất nước Việt Nam trải dài hình chữ S có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trong đó có những tộc người có dân số rất đông như dân tộc Kinh, Thái, Mường… nhưng cũng có những tộc người có dân số cực ít trong số đó phải kể đến 5 tộc người có dân số ít nhất là người Ơ Đu, người Brâu, người Rơ Măm, người Pu Péo và người Si La.

Dân tộc Ơ Đu


Tên tự
gọi:
Ơ Ðu

Tên gọi
khác: Tày Hạt (người đói rách).

Dân số: 376 người (Tổng cục Thống kê năm 2009). Ngôn ngữ
và chữ viết:
Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me (ngữ hệ
Nam Á). Hầu hết người Ơ Ðu dùng các tiếng Khơ Mú, Thái làm công cụ giao tiếp
hàng ngày. Chưa có chữ viết riêng.

Nguồn gốc
lịch sử:
Người Ơ Đu là cư dân sống lâu đời ở miền
núi thuộc tỉnh Nghệ An (vùng thượng lưu sông Cả).

Địa bàn cư
trú:
Cư trú chủ yếu tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

Tổ chức cộng đồng: Đứng đầu các bản làng già làng có
vai trò quan trọng trong việc quyết định các công việc của bản làng,
trong bản làng bao gồm các dòng họ khác nhau người có quyền quyết
định mọi việc trong dòng họ chính là trưởng họ, xã hội của người Ơ
Đu là xã hội phụ quyền. Ngoài ra, trong cộng đồng người Ơ Đu không
thể không nói đến vai trò vô cùng quan trọng của các thầy mo.

Đặc điểm
kinh tế
: Người Ơ Ðu sinh sống chủ yếu bằng nương
rẫy và một phần ruộng nước. Chăn nuôi trâu bò, lợn gà, dê khá phát triển. Trâu,
bò dùng làm sức kéo, kéo cày, lợn gà sử dụng trong các dịp cưới, nghi lễ tín
ngưỡng, cúng ma… Ðan lát đồ gia dụng bằng giang, mây, một phần tiêu dùng,
phần để trao đổi.

Phong tục
tập quán:

Ăn: Người Ơ Ðu trước đây họ ăn xôi đồ, nay có
cả cơm gạo tẻ, khi mất mùa ăn củ nâu, củ mài, hoặc sắn, ngô thay cơm. Họ thích
uống rượu, hút thuốc lào.

Ở: Trước đây, ngôi nhà truyền thống, nhà sàn,
phải dựng quay đầu vào núi (dựng chiều dọc), thường lợp gianh, vách ván hoặc
vách nứa đan. Nay kiểu nhà này không còn nữa. Họ ở sàn nhà giống như nhà sàn
người Thái.

Phương tiện
vận chuyển: Gùi là phương tiện vận chuyển phổ biến
nhất.

Hôn nhân: Người Ơ Đu sống trong gia đình nhỏ,
trong hôn nhân có tục ở rể. Lễ vật cưới hỏi phải có thịt chuột sấy khô, cá ướp
muối. Sau một thời gian chàng rể mới đưa vợ, con về nhà mình.

Tang ma: Xưa , người chết chỉ bó chiếu đem chôn .

Tín
ngưỡng:
Người Ơ Đu thờ tổ tiên, cúng bản, cúng
mường.

Trang
phục:
Hiện nay, nam và nữ đều ăn mặc theo kiểu
người Thái, Việt trong vùng. Những bộ trang phục cổ truyền còn rất ít.

Văn hóa: Người Ơ Ðu sử dụng thành thạo các loại
nhạc cụ của người Khơ Mú, Thái như: sáo, khèn, chiêng, trống; thuộc các làn
điệu dân ca Khơ Mú, Thái, kể chuyện dã sử.

Trang phục của người Ơ Đu
Trang phục của người Ơ Đu

Dân tộc Brâu


Tên tự gọi: Brâu

Tên gọi
khác: Brao.

Số dân: 397 người (Tổng cục Thống kê 2009)

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me
(ngữ hệ Nam Á).

Nguồn gốc
và lịch sử
: Người
Brâu chuyển cư vào Việt Nam
cách đây khoảng 100 năm.

Địa bàn cư
trú:
Người Brâu ở Đắc Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

Đặc điểm
kinh tế:
Người Brâu
trồng lúa, ngô, sắn trên rẫy là chủ yếu. Săn bắt, hái lượm còn chiếm vị trí
quan trọng trong đời sống. Trong làng có lò rèn để tu sửa nông cụ.

Phong tục
tập quán

Ăn uống: Ăn: Người Brâu ăn cơm tẻ và cơm lam, thích
uống rượu cần, hút thuốc lá sợi bằng tẩu.

Ở: Người Brâu ở nhà sàn nhỏ. Các nhà xếp
theo dáng hình tròn và hướng vào một nhà chung ở giữa. Nhà này là nơi sinh hoạt
chung của bản.

Phương tiện
vận chuyển: Vận chuyển chủ yếu bằng gùi.

Hôn nhân: Lễ cưới được tổ chức ở nhà gái, do nhà
trai chi phí. Sau hôn nhân, tục ở rể kéo dài 4 – 5 năm, sau đó là thời gian
luân cư của hai vợ chồng .

Tang ma: Theo tập quán thổ táng, quan tài chôn
nửa chìm, nửa nổi rồi dựng nhà mồ để tùy táng. Xung quanh nhà mồ được trang trí
những mặt nạ bằng gỗ.

Lễ hội: Lễ ăn mừng cơm mới là lễ hội lớn nhất.
Ngoài ra còn có lễ hội mừng nhà Rông mới.

Tín
ngưỡng:
Thờ đa thần, gắn liền với hoạt động sản
xuất nông nghiệp.

Trang phục: Nam vận khố, nữ quấn váy tấm, đeo
nhiều vòng (cổ, tay, chân). Mùa hè đều ở trần, mùa lạnh khoác thêm một tấm vải.

Đời sống
văn hóa
: Văn chương
truyền miệng có nhiều thể loại, phổ biến là huyền thoại về thần sáng tạo. Dân
ca có những bài ca về đám cưới, hát ru, hát đối đáp. Nhạc cụ cổ truyền có đàn
klôngpút gọi là táp đinh bổ, nhưng loại được sử dụng thường xuyên, chủ yếu vẫn
là bộ chiêng đồng với ba thang âm là coong, mam và tha.

Trang phục truyền thống của người Brâu.
Trang phục truyền thống của người Brâu.
Lễ hội đâm trâu của người Brâu.
Lễ hội đâm trâu của người Brâu.

Dân tộc Rơ Măm


Tên tự
gọi:
Rơ Măm

Tên gọi
khác:
Rơ-măm Ale

Dân số: 436 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ
và chữ viết:
Tiếng nói của người Rơ-măm thuộc nhóm ngôn
ngữ Môn – Khơ me, ngữ hệ Nam Á.

Địa bàn cư
trú:
Người Rơ-măm hiện cư trú chủ yếu tại huyện Sa Thày, tỉnh Kon
Tum.

Nguồn gốc
lịch sử:
Là cư dân sống lâu đời ở vùng đất này.

Tổ chức
cộng đồng
: Đơn vị cư trú của người Rơ Măm là đê (làng), đứng đầu là một
ông già trưởng làng do dân tín nhiệm. Làng Le của người Rơ Măm nay chỉ còn
khoảng 10 ngôi nhà ở, có cả nhà rông. Mỗi nhà có từ 10 đến 20 người gồm các thế
hệ, có quan hệ thân thuộc với nhau. Các cặp vợ chồng dù vẫn sống chung dưới một
mái nhà, nhưng đã độc lập với nhau về kinh tế.

Đặc điểm
kinh tế:
Người Rơ-măm sống dựa vào làm rẫy, trồng
lúa nếp là chính bằng cách phát, đốt rừng, chọc lỗ, trỉa hạt. Săn bắn và hái
lượm vẫn giữ vai trò quan trọng. Đồng bào chăn nuôi gia súc, đan lát và dệt
vải.Phong tục
tập quán:

Ăn: Đồng bào vẫn còn thói quen ăn bốc, thích
ăn cơm lam với canh rau và muối ớt. Trong lễ hội thường uống rượu cần.
Ở: Xưa kia, người
Rơ-măm ở trong những ngôi nhà sàn dài, xếp quanh ngôi nhà chung. Mỗi nhà có
nhiều bếp. Hiện nay, mỗi gia đình ở trong một ngôi nhà lợp ngói do nhà nước xây
dựng.

Phương tiện
vận chuyển: Gùi là phương tiện vận chuyển của đồng bào
Rơ-măm.

Hôn nhân: Lễ cưới của người Rơ-măm khá đơn giản. Có
bữa cơm chung đầu tiên của cô dâu chú rể.

Tang ma: Người Rơ-măm thường dùng trống để báo tin
có người chết. Việc chôn cất sẽ được tiến hành vài ngày sau khi mất. Mộ được
sắp xếp sao cho mặt người chết không nhìn vào làng. Trong lễ bỏ mả, có hai
người (một nam, một nữ) đeo mặt nạ, đánh chiêng, nhảy múa.

Tín
ngưỡng:
Người Rơ-măm vẫn còn duy trì những cúng lễ
liên quan đến sản xuất nương rẫy để cầu mong sự phù trợ của các vị thần.

Trang
phục:
Đàn ông đóng khố dài, vạt trườc buông tới đầu gối, vạt sau dài tới
ống chân. Đàn bà quấn váy. Mọi người thường ở trần, đôi khi nữ mặc áo cộc tay,
khố và váy là tấm vải mộc.

Đời sống
văn hóa:
Người Rơ-măm có ca dao, tục ngữ, một số
điệu dân ca và truyện cổ. Nhạc cụ của người Rơ-măm gồm chiêng, trống và đàn,
sáo…

Lễ hội đâm trâu của người Rơ Măm.
Lễ hội đâm trâu của người Rơ Măm.

Dân tộc Pu Péo


Tên tự
gọi:
Pu Péo.Tên gọi
khác:
Ka Beo, La Quả, Pen ti Lô Lô.Dân số: 687 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).Ngôn ngữ
và chữ viết:
Tếng Pu Péo thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai.
Người Pu Péo nói giỏi tiếng Hmông.

Địa bàn cư
trú:
Người Pu Péo sống rải rác ở các huyện Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc
thuộc tỉnh Hà Giang.

Nguồn gốc
lịch sử: Người Pu Péo sống lâu đối ở vùng cực bắc
lãnh thổ Việt Nam.

Tổ chức cộng
đồng:
Xã hội Pu Péo trước kia đã phân hóa giai cấp, người giàu
thường là những người làm các chức dịch như Lý Trưởng (Tổng Giáp),
Phó Lý của xã (Phố Cao), binh phiều, mãi phài trông coi từng chòm
xóm. Hiện này, xã hội người Pu Péo tồn tại song song 2 loại dòng
họ: Trên giấy tờ hành chính người Pu Péo thường dùng các họ gọi
theo tên bằng chữ Hán nhưng lại đọc theo phiên âm của tiếng địa phương,
trong mối quan hệ làng xã thì người Pu Péo vẫn sử dụng những họ thể hiện mối dây liên
lạc máu mủ giữa các thành viên của dòng họ, mỗi dòng họ như thế thường gồm một
cặp như Kacung – Kacăm, Karảm – Kachâm, Karu – Karựa, Ka bu – Ka bởng, điều
này cho ta thấy những tàn dư trong những thị tộc (lưỡng hợp) trong
bào tộc xưa còn sót lại.

Đặc điểm
kinh tế:
Canh tác nương rẫy trồng ngô là chính. Một
số nơi, làm ruộng bậc thang. Công cụ sản xuất có cày, bừa, cuốc, nạo cỏ. Chăn
thả bò, dê, lợn, gà. Thủ công có nghề làm ngói máng, nghề mộc.

Phong tục
tập quán
:

Ăn: Bột ngô đồ, canh là hai món ăn chính của
người Pu Péo.

Ở: Trước đây người Pu Péo ở nhà sàn, nay ở
nhà đất trình tường, lợp ngói máng hay lợp cỏ gianh.

Phương tiện
vận chuyển: Gùi được sử dụng phổ biến làm phương tiện
vận chuyển.

Hôn nhân: Cưới xin có nhiều bước. Hôm đón dâu, phù
dâu phải cõng cô dâu ra khỏi cổng để theo đoàn nhà trai về. Trong bữa cơm cúng
tổ tiên, thức ăn để trên nong, cả nhà cùng dâu rể phải ăn bốc.

Tang ma: Người Pu Péo có lễ làm ma và lễ làm chay.
Trong những ngày có tang người ta cắm ta leo trước cửa để trừ tà ma làm hại. Lễ
mãn tang vừa uống rượu vừa đánh trống.

Tín
ngưỡng:
Người Pu Péo lập bàn thờ ở trong nhà, cúng
tổ tiên 3 đời. Trên bàn thờ có 3 hũ sành nhỏ, mỗi hũ tượng trưng cho mỗi đời.

Trang
phục:
Nữ giới mặc váy dài, áo ngắn, cài khuy bên
nách phải, đôi khi phủ khăn vuông trên đầu. Mép tay áo mép váy được ghép, viền
vải màu tạo hoa văn sặc sỡ. Nam
giới mặc quần, áo ngắn.

Đời sống
văn hóa:
Người Pu Péo có truyện cổ dân gian, có
trống đồng (trống cái, trống đực) sử dụng trong lễ nghi, cúng bái. Nghệ thuật
trang trí rõ nét trên y phục: chắp ghép vải màu, tạo các hình, các họa tiết
tượng trưng cho sự biến chuyển của vũ trụ…Hát đám cưới xin dâu giữa nhà trai
và nhà gái suốt 3-4 giờ trở thành một sinh hoạt văn nghệ rất độc đáo.

Trang phục của người Pu Péo,
Trang phục của người Pu Péo,
Lễ cúng thần rừng của người Pu Péo.
Lễ cúng thần rừng của người Pu Péo.

Dân tộc Si La


Tên tự
gọi
: Si La

Tên gọi
khác:
Cú Dé Xử, Khả Pẻ

Dân số: 840 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).Ngôn ngữ
và chữ viết:
Tếng nói của người Si La thuộc nhóm ngôn
ngữ Tạng – Miến, ngữ hệ Hán – Tạng. Người Si La chưa có chữ viết riêng.

Địa bàn cư
trú: Người Si La sống tập trung ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

Nguồn gốc
lịch sử:
Người Si La có nguồn gốc xa xưa ở Tây Tạng
(Trung Quốc), qua Lào đến lập nghiệp ở Việt Nam khoảng 150 năm nay.

Tổ chức cộng đồng: Người Si La có nhiều dòng họ. Các dòng họ
đều kiêng ăn thịt mèo. Quan hệ trong họ khăng khít, chặt chẽ. Trưởng họ là
người đàn ông cao tuổi nhất, có vai trò quan trọng đối với các thành viên và có
trách nhiệm tổ chức sinh hoạt chung của họ mình, đặc biệt là việc thờ cúng.
Trong xã hội, ngoài trưởng họ, người Si La rất coi trọng các thầy mo.

Đặc điểm
kinh tế:
Trườc kia người Si La quen du cư, du canh,
gần đây đã biết kết hợp vừa làm nương, vừa làm ruộng nước. Đồng bào trồng lúa,
ngô, săn bắt, hái lượm và chăn nuôi.

Phong tục
tập quán
:

Ăn: Xưa kia người Si La quen dùng cơm nếp, gần
đây ăn cơm tẻ nhiều hơn. Thực phẩm chủ yếu được cung cấp từ săn bắt, hái lượm.

Ở: Người Si La sống quây quần thành bản nhỏ,
kín đáo, ở nhà đất hay nhà vách nứa, thường không có vườn. Bếp đặt ở giữa nhà.
Phương tiện vận chuyển: Chủ
yếu dùng gùi đeo qua trán khi đi nương rẫy, dùng mảng để đi lại trên sông.

Hôn nhân: Trai gái yêu nhau được quan hệ với nhau,
người con trai được ngủ qua đêm tại nhà người yêu của mình và phong tục cưới
hỏi của người Si La cũng rất đặc sắc họ làm lễ cưới hai lần. Lần đầu đón cô dâu
về nhà chồng, lần thứ hai sau một năm. Nhà trai phải có khoản tiền cưới trao
cho nhà gái mới được đón dâu về nhà mình.

Tang ma: Quan tài làm bằng một khúc gỗ bổ đôi khoét
rỗng. Mộ táng bao giờ cũng đặt phía dưới bản. Không có tục cải táng hay tảo mộ.

Tín
ngưỡng:
Người Si La thờ cúng theo các dòng họ. Mỗi
gia đình lập bàn thờ cúng tổ tiên.

Trang
phục:
Phụ nữ mặc váy chàm, áo ngắn cài cúc bên
nách phải, trên áo phía trước đưục thêu đính nhiều xu bạc, vấn khăn có tết sợi
chỉ màu sắc. Cách vấn khăn thường biểu thị tình trạng hôn nhân. Nam giới mặc
quần chân què lá tọa và áo khuy vải có hai túi lớn ở hai vạt trước và cũng quấn
khăn trên đầu.

Đời sống
văn hóa:
Người Si La hát giao duyên giữa nam nữ
thanh niên, hát sử ca. Ngày tết năm mới vào đầu tháng 12 âm lịch. Ngoài ra họ
còn ăn tết cơm mới. Các em nhỏ Si La thường chơi các đồ chơi tự chế từ tre gỗ
hay đất sét. Đồng thời, chúng cũng có các trò chơi tập thể rất vui nhộn.

Người Si La.
Người Si La.
Lễ cưới của người Si La.
Lễ cưới của người Si La.

Tổng hợp bởi: Top Vozz

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button